Tài liệu nổi bật
Ấn phẩm
Đề xuất mô hình nghiên cứu về mối quan hệ từ kiệt sức (burnout) đến hành vi nghỉ việc thầm lặng (quiet quitting) của sinh viên đi làm các công việc bán thời gian tại Việt Nam
(Học viện Tài chính, 2026) Lê Thu Hạnh TS.; Hoàng Mỹ Uyên; Trần Hồng Nhung; Đặng Linh Anh; Nguyễn Trung Nguyên
Mục đích của nghiên cứu nhằm đề xuất mô hình nghiên cứu về mối quan hệ từ Kiệt sức (Burnout) đến hành vi Nghỉ việc thầm lặng (Quiet Quitting) của sinh viên đi làm các công việc bán thời gian tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng là sự kết hợp giữa khung lý thuyết Nhu cầu - nguồn lực công việc (JD-R) thuyết Bảo tồn nguồn lực (COR) và thuyết Trao đổi xã hội (SET), một mô hình nghiên cứu toàn diện đã được xây dựng nhằm làm rõ tác động của các yếu tố yêu cầu nghề nghiệp và nguồn lực nghề nghiệp dẫn đến hành vi nghỉ việc trong im lặng. Trong đó, mô hình xác định các biến độc lập bao gồm: Sự không công bằng trong tiền lương (PU), Khối lượng công việc (WL), Cảm nhận về sự hỗ trợ từ tổ chức (POS), Phong cách lãnh đạo (L), Xung đột giữa công việc và gia đình (WFC), Xung đột giữa công việc và việc học (WSC), Xung đột giữa công việc và cuộc sống (WLC) và Động lực làm việc (M). Mối quan hệ giữa các yếu tố này và biến phụ thuộc Nghỉ việc trong im lặng (QQ) được đề xuất thông qua vai trò trung gian trung tâm của Kiệt sức (B). Nghiên cứu này được kỳ vọng có ý nghĩa đối với việc phát triển những nghiên cứu tiếp theo của các học giả trong tương lai, đồng thời tạo tiền đề cho các doanh nghiệp và tổ chức sử dụng lao động bán thời gian tại Việt Nam có cơ sở xây dựng các chính sách quản trị nguồn nhân lực phù hợp, nhằm cải thiện điều kiện làm việc và duy trì sự gắn kết của lực lượng lao động trẻ.
Ấn phẩm
Nghiên cứu ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc đến kết quả công việc của nhân viên: Trường hợp các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội
(Học viện Tài chính, 2026) Vũ Thị Thảo ThS; Nguyễn Thùy Dung TS.
Nghiên cứu này kiểm định ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc đến kết quả công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở Hà Nội. Trên cơ sở ba khung lý thuyết nền tảng (hai nhân tố, trao đổi xã hội và kết quả công việc đa chiều), sự hài lòng được tiếp cận theo hai cấu phần gồm sự hài lòng nội tại và sự hài lòng ngoại tại; kết quả công việc được đo lường theo hai khía cạnh gồm kết quả theo nhiệm vụ và kết quả theo bối cảnh. Kết quả phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần cho thấy các cấu phần của sự hài lòng đều tác động tích cực đến kết quả công việc, trong đó các yếu tố ngoại tại giữ vai trò chi phối. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong ngành lữ hành và đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực.
Ấn phẩm
Các yếu tố thúc đẩy ý định mua lại bảo hiểm ô tô cá nhân: Vai trò điều tiết của cảm nhận rủi ro
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Xuân Khuê NCS; Đào Duy Huân PGS.TS; Trần Thị Thùy TS.; Phạm Đình Hân TS.
Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua lại bảo hiểm ô tô cá nhân tự nguyện. Khung nghiên cứu tích hợp lý thuyết hành vi có kế hoạch, lý thuyết rủi ro cảm nhận và lý thuyết kỳ vọng xác nhận. Dữ liệu thu thập từ 496 người mua bảo hiểm ô tô ở khu vực Đông Nam Bộ được phân tích bằng PLS-SEM. Kết quả cho thấy sự hài lòng khách hàng là yếu tố dự báo mạnh nhất của ý định mua lại, cả trực tiếp và thông qua các yếu tố liên quan như hình ảnh thương hiệu, kiến thức chủ quan và giá trị cảm nhận. Độ nhạy cảm về giá và kiểm soát hành vi cảm nhận cũng ảnh hưởng tích cực đến ý định mua lại. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ cảm nhận không cho thấy tác động đáng kể. Ngoài ra, rủi ro cảm nhận làm suy yếu mối quan hệ giữa sự hài lòng và ý định mua lại, cho thấy sự không chắc chắn cao hơn có thể làm giảm ý định gia hạn của khách hàng. Các phát hiện này cung cấp hiểu biết về hành vi người tiêu dùng sau mua và gợi ý cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm tăng cường duy trì khách hàng.
Ấn phẩm
Cảm nhận về tính chân thực trong ESG và lợi thế cạnh tranh bền vững: Vai trò trung gian của bản sắc tổ chức xanh và hành vi xanh của nhân viên
(Học viện Tài chính, 2026) Trần Thị Mỹ Linh TS.; Đoàn Huy Hoàng TS.
Nghiên cứu đánh giá tác động của cảm nhận tính chân thực ESG (PEA) đến lợi thế cạnh tranh bền vững (SCA) dựa trên khảo sát 347 nhân viên. Kết quả PLS-SEM cho thấy PEA không ảnh hưởng trực tiếp đến SCA. Tuy nhiên, PEA tác động gián tiếp thông qua bản sắc tổ chức xanh (GOI) và hành vi xanh (PEB). Nghiên cứu khẳng định ESG chỉ tạo giá trị khi được nhân viên cảm nhận là chân thực.
Ấn phẩm
Nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô công ty kiểm toán và đặc điểm của doanh nghiệp được kiểm toán tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Thị Thanh Tâm; Đặng Ngọc Hùng PGS.TS.
Chất lượng kiểm toán (CLKT) là vấn đề được xã hội quan tâm, đặc biệt là các nhà đầu tư. CLKT không chỉ phản ánh tính minh bạch và độ tin cậy của các báo cáo tài chính (BCTC) mà còn tác động trực tiếp đến các quyết định đầu tư và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích, kết quả cho thấy biến quy mô doanh nghiệp (SIZE) và biến đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng thuận chiều tới CLKT, còn biến quy mô công ty kiểm toán (Big 4) có tác động ngược chiều. Từ đó nghiên cứu đưa ra một số đề xuất phù hợp để nâng cao CLKT và góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ấn phẩm
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định tiếp tục gia hạn dịch vụ nghe nhạc trực tuyến có trả phí
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Hoàng Linh TS.; Nguyễn Bình Minh TS.; Ôn Nguyễn Linh Nhi; Trần Thị Thu Thảo; Nguyễn Thị Hải Phương
Trong bối cảnh các nền tảng nghe nhạc trực tuyến trả phí ngày càng cạnh tranh, nghiên cứu được tiến hàng nhằm phân tích vai trò của các thành phần giá trị cảm nhận đối với ý định tiếp tục sử dụng của người tiêu dùng trẻ tại Việt Nam. Kết quả khảo sát định lượng cho thấy giá trị xã hội là yếu tố có ảnh hưởng tích cực và nổi bật nhất đến ý định tiếp tục sử dụng, trong khi các giá trị chức năng và cảm xúc đã không còn đóng vai trò đáng kể khi người dùng trở nên quen thuộc với dịch vụ. Phát hiện này cho thấy hành vi duy trì sử dụng ngày càng gắn liền với yếu tố xã hội và cảm giác thuộc về cộng đồng. Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế duy trì sử dụng trong bối cảnh dịch vụ số, đồng thời gợi mở các hàm ý quản trị cho chiến lược giữ chân người dùng của các nền tảng nghe nhạc trực tuyến.