Tài liệu nổi bật
Ấn phẩm
Nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng và những chi phối bởi thuật toán đến niềm tin vào nền tảng của người dùng trên sàn thương mại điện tử tại Việt Nam
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Hồng Hạnh TS.; Vũ Minh Trang; Nguyễn Thu Nga; Đinh Thị Kim Ngân; Nguyễn Ngọc Anh; Đinh Mỹ Hạnh
Nghiên cứu này tập trung vào người tiêu dùng đã từng tương tác với hệ thống cá nhân hóa trên nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam. Dựa vào mô hình Kích thích - Chủ thể - Phản hồi (Stimulus-Organism-Response - S-O-R), nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa cảm nhận xâm phạm (OPI), cảm nhận sự chi phối của thuật toán (OPA) và niềm tin vào nền tảng (PT), đồng thời khám phá vai trò trung gian của kiệt quệ cảm xúc (PFE) và vai trò điều tiết của năng lực tự bảo vệ quyền riêng tư (PSE). Kết quả từ 409 mẫu hợp lệ phân tích qua PLS-SEM cho thấy: OPI và OPA đều tác động tích cực đến PFE; PFE tác động tích cực đến PT, phản ánh người dùng chấp nhận sự giám sát như điều tất yếu; PFE đóng vai trò trung gian trong chuỗi OPI/OPA → PT; PSE chỉ điều tiết mối quan hệ OPI → PFE. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của tính minh bạch, trao quyền tự chủ cho người dùng và tích hợp công cụ quản trị dữ liệu trực quan nhằm xây dựng niềm tin bền vững.
Ấn phẩm
Bất cân xứng thông tin, tâm lý nhà đầu tư và thanh khoản cổ phiếu: Nghiên cứu tình huống tại thị trường chứng khoán Việt Nam
(Học viện Tài chính, 2026) Đặng Thị Lan Phương TS.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống đa trường hợp (multiple case study) để phân tích mối quan hệ giữa bất cân xứng thông tin, tâm lý nhà đầu tư và thanh khoản cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Bốn tình huống được chọn lọc theo mức độ bất cân xứng thông tin: (1) FLC/HOSE - thao túng thông tin quy mô lớn nhất lịch sử; (2) Louis Holdings/TGG (HNX) - nhóm cổ phiếu bị "thổi giá" 37 lần qua mạng xã hội; (3) Apec Group/APS (HNX) - bất cân xứng thông tin mức trung bình với tin đồn và nhóm chat; (4) Vinamilk/VNM (HOSE) - cổ phiếu minh bạch cao làm nhóm đối chứng. Kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp (báo cáo tòa án, quyết định xử phạt UBCKNN, dữ liệu giá-khối lượng) với 16 cuộc phỏng vấn sâu (chuyên gia và nhà đầu tư cá nhân trực tiếp tham gia vào các tình huống này), nghiên cứu phát hiện mô hình ba giai đoạn nhất quán qua cả ba tình huống bất cân xứng cao: (1) Giai đoạn tạo thanh khoản giả (Synthetic liquidity) bằng thao túng thông tin; (2) Giai đoạn tâm lý đám đông khuếch đại; (3) Giai đoạn sụp đổ thanh khoản đột ngột khi thông tin thật lộ ra. Trường hợp VNM cho thấy mô hình hoàn toàn ngược lại: minh bạch cao - thanh khoản ổn định và ít biến động theo tâm lý.
Ấn phẩm
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thời trang trực tuyến: Tiếp cận tích hợp TPB và TAM tại Việt Nam
(Học viện Tài chính, 2026) Võ Thanh Thu GS.TS.; Vũ Anh Chiến
Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm thời trang trực tuyến tại Việt Nam thông qua việc tích hợp thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), tập trung vào vai trò của nhận thức về tính hữu ích, niềm tin, nhận thức rủi ro và thái độ. Phương pháp định lượng được sử dụng với thiết kế khảo sát cắt ngang, thu thập 211 phản hồi hợp lệ từ người tiêu dùng Việt Nam bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện sau đó dữ liệu được phân tích bằng PLS-SEM quan phần mềm SmartPLS. Kết quả nhấn mạnh của thái độ khi đóng vai trò trung gian bán phần, giúp chuyển hóa tác động của niềm tin và rủi ro sang ý định mua. Nghiên cứu đóng góp về mặt lý thuyết khi tích hợp hiệu quả TAM và TPB trong bối cảnh thời trang trực tuyến, đồng thời đưa ra hàm ý quản trị sâu sắc nhằm thúc đẩy hành vi mua sắm trực tuyến.
Ấn phẩm
Nghiên cứu tác động của phong cách quản trị xung đột né tránh đến xung đột nhóm và vai trò điều tiết của lòng tin nhóm trong doanh nghiệp
(Học viện Tài chính, 2026) Trần Thị Siêm ThS.
Nghiên cứu này xem xét tác động của phong cách quản trị xung đột né tránh đến xung đột nhóm và vai trò điều tiết của lòng tin nhóm trong các doanh nghiệp phần mềm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu từ 299 nhân viên được phân tích bằng PLS-SEM. Kết quả cho thấy phong cách quản trị xung đột né tránh làm gia tăng xung đột nhiệm vụ (TC) và xung đột quan hệ (RC); đồng thời, xung đột nhiệm vụ có tác động thuận chiều đến xung đột quan hệ. Đáng chú ý, lòng tin nhóm làm suy yếu tác động của phong cách quản trị xung đột né tránh đến xung đột nhiệm vụ. Nghiên cứu góp phần làm rõ điều kiện bối cảnh khiến phong cách né tránh làm gia tăng xung đột nhóm, đồng thời gợi ý tổ chức cần thúc đẩy đối thoại và xây dựng lòng tin nhóm để quản trị xung đột hiệu quả hơn.
Ấn phẩm
Sai lệch xác minh công bố Scopus và rủi ro chi sai kinh phí nghiên cứu: Hàm ý đối với kiểm soát nội bộ
(Học viện Tài chính, 2026) Đặng Xuân Thọ PGS.TS.; Đào Thị Minh ThS.
Trong bối cảnh công bố Scopus được sử dụng làm căn cứ xét thưởng và phân bổ kinh phí nghiên cứu, việc xác minh chính xác tình trạng chỉ mục ở cấp độ bài báo có ý nghĩa quan trọng đối với kiểm soát kinh phí. Nghiên cứu này đánh giá rủi ro chi sai do sai lệch xác minh Scopus và đề xuất mô hình kiểm soát nội bộ theo hướng cấp độ bài báo. Dựa trên hai bộ dữ liệu độc lập, nghiên cứu xây dựng và kiểm định công cụ xác minh, sau đó áp dụng cho 145 hồ sơ đề nghị khen thưởng năm 2025 tại một trường đại học. Kết quả cho thấy 24,13% bài thuộc nhóm rủi ro, với kinh phí tiềm ẩn có nguy cơ chỉ sai khoảng 465 triệu đồng. Nghiên cứu khuyến nghị tích hợp xác minh cấp độ bài báo vào quy trình kiểm soát trước khi chi.
Ấn phẩm
Marketing mạng xã hội và ý định mua lại xanh: Tiếp cận từ khung S-O-R với vai trò điều tiết của độ nhạy cảm giá xanh
(Học viện Tài chính, 2026) Lâm Ngọc Thuỳ; Tạ Văn Thành; Lê Quang Huy
Dựa trên khung lý thuyết Stimulus-Organism-Response (S-O-R), nghiên cứu này phân tích tác động của marketing mạng xã hội đến ý định mua lại xanh của người tiêu dùng, thông qua vai trò trung gian của giá trị thương hiệu xanh và thái độ xanh, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của độ nhạy cảm giá xanh. Dữ liệu được thu thập từ 499 người tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam và phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả cho thấy ý định mua lại xanh chịu tác động trực tiếp của giá trị thương hiệu xanh gồm hình ảnh thương hiệu xanh, chất lượng xanh cảm nhận và giá trị xanh cảm nhận và thái độ xanh. Bên cạnh đó, độ nhạy cảm giá xanh điều tiết đáng kể mối quan hệ giữa thái độ xanh và ý định mua lại, làm suy yếu tác động khi mức độ nhạy cảm giá tăng cao. Nghiên cứu góp phần mở rộng khung S-O-R trong bối cảnh tiêu dùng xanh và cung cấp hàm ý quản trị cho việc thiết kế chiến lược truyền thông xanh trên nền tảng mạng xã hội nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững.