Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Tác động của năng lực quản trị đến năng lực tài chính của các doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở Việt Nam: bằng chứng từ mô hình SEM
(Học viện Tài chính, 2026) Lê Thị Hồng ThS.; Phạm Thị Thanh Hòa PGS.TS.; Vũ Văn Tùng PGS.TS.
Trên cơ sở dữ liệu khảo sát tại 20 doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (DN KHKTQPAN) ở Việt Nam, bài viết sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định tác động của các nhân tố đến năng lực tài chính, qua đó làm rõ vai trò của năng lực quản trị doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực quản trị có tác động tích cực và là nhân tố có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực tài chính của doanh nghiệp. Phát hiện này khẳng định vai trò then chốt của quản trị doanh nghiệp trong nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, tăng cường kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng lập kế hoạch tài chính, hiệu quả kiểm soát nội bộ và năng lực điều hành, góp phần cải thiện năng lực tài chính và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kép của các DN KHKTQPAN trong giai đoạn mới.
Ấn phẩm
Kiểm định vai trò của thực hành ESG đối với hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp môi trường niêm yết tại Việt Nam.
(Học viện Tài chính, 2026) Đoàn Thục Quyên TS.
Nghiên cứu này xây dựng khung chấm điểm ESG dựa trên các thang đo quốc tế, điều chỉnh phù hợp với doanh nghiệp (DN) môi trường tại Việt Nam, và đưa điểm ESG vào mô hình hồi quy cùng các biến tài chính (CS, AT, FA, QR, RG) và biến kiểm soát (AGE, InSZ) để phân tích sức sinh lời trên vốn chủ (ROE) của 19 doanh nghiệp môi trường niêm yết giai đoạn 2020-2024. Kết quả cho thấy ROE liên quan với nhiều biến, nhưng chỉ FA tác động tiêu cực rõ ràng. Mô hình Fixed Effects được lựa chọn qua kiểm định Hausman, sau đó GLS được áp dụng để khắc phục heteroskedasticity và tự tương quan. Nghiên cứu nhấn mạnh đặc thù ngành môi trường -vốn đầu tư lớn, chi phí vận hành và khấu hao cao - khiến tỷ lệ tài sản cố định (TSCĐ) ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sinh lời, còn tác động ESG chưa hiện rõ trong ngắn hạn.
Ấn phẩm
Quản lý rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số: thực trạng và hàm ý quản trị.
(Học viện Tài chính, 2026) Cao Minh Hạnh ThS.
Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể cấu trúc rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại, đồng thời làm gia tăng các rủi ro liên quan đến công nghệ, dữ liệu, an ninh mạng và các bên thứ ba. Trên cơ sở các nguyên tắc quản lý rủi ro hoạt động của Basel Committee on Banking Supervision, nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Kết quả cho thấy các ngân hàng đã từng bước hoàn thiện khung quản trị rủi ro hoạt động theo hướng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, song vẫn còn những thách thức liên quan đến quản trị dữ liệu, rủi ro công nghệ, khả năng chống chịu hoạt động và mức độ tích hợp giữa quản lý rủi ro với chiến lược chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Ấn phẩm
Đánh giá trực tuyến và quyết định mua: vai trò trung gian then chốt của niềm tin vào thông điệp.
(Học viện Tài chính, 2026) Đỗ Thị Dịu ThS.
Nghiên cứu này xem xét và so sánh ảnh hưởng của các khía cạnh của đánh giá trực tuyến theo hướng tiếp nhận thông tin trung tâm và ngoại vi đến quyết định mua hàng trên sàn thương mại điện tử (TMĐT) của người tiêu dùng Việt Nam đối ở hai nhóm sản phẩm có mức độ quan tâm cao và mức độ quan tâm thấp. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thu thập và phân tích dữ liệu từ 510 khách hàng được khảo sát chặn tại các siêu thị của ba thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Kết quả cho thấy, các khía cạnh của đánh giá trực tuyến ở hướng tiếp nhận thông tin trung tâm và ngoại vi đều không có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua trên sàn TMĐT mà thông qua vai trò của niềm tin vào thông điệp ở cả hai nhóm sản phẩm. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách để giúp các nhà bán hàng và doanh nghiệp có kế hoạch quản lý và phát triển đánh giá trực tuyến một cách hiệu quả để có được chiến lược marketing tốt cho gian hàng của mình.
Ấn phẩm
Tác động của chuyển đổi số đến kết quả kinh doanh ngân hàng thương mại qua hai kênh đổi mới công nghệ và năng suất lao động.
(Học viện Tài chính, 2026) Ngô Ánh Nguyệt ThS.; Trần Việt Dũng PGS.TS.
Nghiên cứu phân tích cơ chế truyền dẫn tác động của chuyển đổi số đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam, với trọng tâm là hai kênh trung gian gồm đổi mới công nghệ và năng suất lao động. Dữ liệu được thu thập từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết trong giai đoạn 2010 đến 2024. Đối mới công nghệ được đo bằng thành phần thay đổi công nghệ tách từ chỉ số năng suất Malmquist; năng suất lao động được đo bằng tỷ số tổng thu nhập hoạt động trên chi phí nhân viên. Nghiên cứu sử dụng quy trình kiểm định trung gian ba bước của Baron và Kenny kết hợp kiểm định Sobel, ước lượng bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi. Kết quả chỉ ra rằng chuyển đổi số làm tăng cả đổi mới công nghệ và năng suất lao động, qua đó cải thiện tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Trong tổng tác động đến tỷ suất sinh lời, tác động trực tiếp chiếm 68,6%, kênh năng suất lao động chiếm 25,4% và kênh đổi mới công nghệ chiếm 6,0%. Kênh năng suất lao động giữ vai trò chính đối với khả năng sinh lời, còn kênh đổi mới công nghệ có vai trò nổi bật hơn đối với ổn định tài chính. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý cho lộ trình chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại.
Ấn phẩm
Ý định sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập của sinh viên Việt Nam: ứng dụng mô hình SOR và UTAUT.
(Học viện Tài chính, 2026) Hồ Kim Ngân TS.
Nghiên cứu này kiểm định mô hình tích hợp giữa Lý thuyết Kích thích - Nhận thức - Phản ứng (SOR) và Lý thuyết Thống nhất về Chấp nhận và Sử dụng công nghệ (UTAUT) nhằm giải thích ý định sử dụng trí tuệ nhân tạo (Al) trong học tập của sinh viên đại học tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 565 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh và phân tích bằng mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) thông qua phần mềm SmartPLS 4.0. Kết quả xác nhận toàn bộ năm giả thuyết: bốn nhân tố kỳ vọng hiệu suất, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi đều có tác động thuận chiều đến thái độ của sinh viên đối với trí tuệ nhân tạo, trong đó điều kiện thuận lợi có hệ số tác động lớn nhất (β = 0,370). Thái độ là yếu tố quyết định mạnh nhất đến ý định sử dụng (β = 0,751), khẳng định vai trò trung gian trọng yếu của biến này trong chuỗi nhân quả SO R. Đóng góp lý thuyết của nghiên cứu nằm ở việc làm rõ cơ chế tâm lý trung gian mà các nghiên cứu trước tại Việt Nam chưa kiểm định, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm cho các khuyến nghị chính sách về thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong giáo dục đại học.