Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Tác động của chuyển đổi số đến phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Thị Thu Hà TS.
Nghiên cứu này phân tích tác động của chuyển đổi số đến phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam trong bối cảnh chiến lược tăng trưởng xanh, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và áp lực giảm phát thải đang diễn ra đồng thời. Trên cơ sở tiếp cận kinh tế học môi trường, lý thuyết đổi mới và khung năng lực động, bài viết xây dựng mô hình hồi quy bảng cấp tỉnh nhằm kiểm định mối quan hệ giữa chỉ số chuyển đổi số và chỉ số kinh tế xanh. Do mục tiêu của bản thảo là hoàn thiện cấu trúc nghiên cứu và minh họa quy trình định lượng, bộ dữ liệu được cho 32 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2019-2024 với 378 quan sát. Kết quả hồi quy cho thấy chuyển đổi số có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến phát triển kinh tế xanh; đầu tư xanh đóng vai trò bổ trợ và làm tăng hiệu quả chuyển hóa của chuyển đổi số thành kết quả xanh. Các biến kiểm soát như chất lượng nguồn nhân lực và đô thị hóa có tác động tích cực, trong khi tỷ trọng công nghiệp có thể làm gia tăng áp lực môi trường nếu thiếu công nghệ sạch. Bài viết đề xuất hàm ý chính sách về tích hợp dữ liệu môi trường, hạ tầng số xanh, tài chính xanh và năng lực số của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
Ấn phẩm
Từ chính sách quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2020–2025: đề xuất một số giải pháp cho thời gian tới.
(Học viện Tài chính, 2026) Vũ Tam Hòa TS.
Bài viết này nhằm giới thiệu và phân tích một số chính sách quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2020-2025 truước môi trường chuyển đổi số. Các chiến lược, nghị quyết quan trọng của Chính phủ được ban hành đã đẩy mạnh ký kết FTA và cải cách hành chính, giúp kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt được kết quả nhất định. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện về chính sách, thể chế thuận lợi tạo điều kiện cho Doanh nghiệp phát triển như: chính sách thương mại cần nhanh chóng hoàn thiện và đưa ra những quyết sách giúp Doanh nghiệp mở rộng thị trường, hưởng ưu đãi thuế quan; cải cách thủ tục hành chính, thông quan tự động, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp....
Ấn phẩm
Thiết kế ngưỡng doanh thu chịu thuế hộ kinh doanh năm 2026 dưới góc nhìn điểm hòa vốn kinh tế.
(Học viện Tài chính, 2026) Tạ Văn Khoái TS.
Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chính sách thuế đối với hộ kinh doanh (HKD) tại Việt Nam, khi tư duy quản lý được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, trao quyền điều tiết cho Chính phủ để thích ứng với biến động kinh tế - xã hội. Trên nền tảng đó, ngưỡng doanh thu chịu thuế 1 tỷ đồng/năm, áp dụng từ 01/01/2026, thể hiện nỗ lực chuẩn hóa khu vực kinh tế cá thể trong khuôn khổ quản lý thống nhất, hiện đại và kỷ cương. Dưới góc nhìn kinh tế công, quy định này phản ánh sự cân bằng giữa mở rộng cơ sở thuế, bảo đảm công bằng nghĩa vụ tài chính và giảm chi phí quản lý hành chính. Ngưỡng 1 tỷ đồng là điểm phân định quan trọng, giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực, hạn chế thất thu và khuyến khích HKD minh bạch hóa hoạt động. Các phương pháp phân tích như chi phí - lợi ích hay điểm hòa vốn kinh tế chỉ mang tính tham khảo, trong khi ổn định vĩ mô, năng lực quản trị và tuân thủ xã hội vẫn giữ vai trò quyết định. Vì vậy, việc vận hành ngưỡng hiện hành phù hợp yêu cầu cải cách thuế, bảo đảm kỷ cương tài khóa và hiệu lực quản lý nhà nước. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng số hóa quản lý, liên thông dữ liệu và đánh giá định kỳ, nhằm xây dựng nền tảng thuế công bằng và bền vững hơn.
Ấn phẩm
Tác động của cấu trúc thị trường đến tính ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Thị Kiều Nga TS.
Nghiên cứu này phân tích tác động của cấu trúc thị trường đến tính ổn định tài chính của 23 ngân hàng thương mại Việt Nam niêm yết trong giai đoạn 2010-2024. Ôn định tài chính được đo lường bằng chỉ số Z-score, trong khi cấu trúc thị trường được đại diện bởi chỉ số Lerner. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đảo chiều rõ rệt của sức mạnh thị trường: từ yếu tố hỗ trợ ổn định trước đại dịch sang tác động tiêu cực trong giai đoạn hậu COVID-19. Nghiên cứu còn chỉ ra nghịch lý của lớp đệm vốn trước những rủi ro nợ xấu tiềm ẩn. Từ đó, tác giả đề xuất hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự ổn định cho hệ thống ngân hàng.
Ấn phẩm
Phân tích mối liên kết động giữa giá vàng, giá dầu, tỷ giá và thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
(Học viện Tài chính, 2026) Đặng Thùy Nhung TS.; Nguyễn Thị Hương Giang; Nguyễn Thị Ngọc Ánh; Nguyễn Thị Tâm Chi; Nguyễn Thị Hiền; Trần Thị Thúy Hằng
Nghiên cứu phân tích mối liên kết động giữa bốn thị trường tài sản chủ chốt tại Việt Nam, bao gồm vàng, dầu, tỷ giá hối đoái và thị trường chứng khoán. Sử dụng dữ liệu tần suất ngày trong giai đoạn 2015-2025, nghiên cứu áp dụng mô hình DCC-GARCH kết hợp với chỉ số lan tỏa Diebold-Yilmaz nhằm đánh giá mức độ tương tác và truyền dẫn biến động giữa các thị trường. Kết quả thực nghiệm cho thấy: (i) Tất cả các thị trường đều thể hiện đặc tính biến động dai dẳng, trong đó tỷ giá USD/VND và giá dầu Brent đóng vai trò là nguồn lan tỏa biến động mạnh trong dài hạn, trong khi giá vàng SJC phản ứng nhạy với các cú sốc ngắn hạn; (ii) Mối liên kết giữa các thị trường mang tính động, thay đổi theo thời gian và chịu tác động đáng kể từ các giai đoạn thị trường bất thường; (iii) Mặc dù tồn tại sự kết nối, các thị trường nhìn chung vẫn duy trì mức độ độc lập tương đối, với thị trường chứng khoán giữ vai trò trung tâm trong cơ chế lan tỏa biến động. Các kết quả này vẫn được củng cố khi thay thế chỉ số VNIndex bằng HNXIndex trong phân tích độ bền. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh biến động và rủi ro thị trường gia tăng.
Ấn phẩm
Hoàn thiện khung pháp lý cho thu hút đầu tư tác động vào Việt Nam đến năm 2030.
(Học viện Tài chính, 2026) Lê Như Quỳnh TS.
Đầu tư tác động là kênh phân bổ vốn nhằm tạo lợi nhuận tài chính đồng thời tạo tác động xã hội hoặc môi trường tích cực và có thể đo lường được. Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý cho thu hút đầu tư tác động vào Việt Nam từ năm 2020 đến nay, từ đó tìm ra những khoảng trống pháp lý trong thu hút đầu tư tác động vào Việt Nam. Kết quả cho thấy Việt Nam đã có nền tảng ban đầu về doanh nghiệp xã hội, tài chính xanh, chiến lược tăng trưởng xanh, phân loại xanh và hệ sinh thái SIB, tuy nhiên các quy định pháp luật còn phân tán, chưa có định nghĩa riêng về đầu tư tác động, thiếu chuẩn đo lường - công bố tác động và thiếu cơ sở dữ liệu thị trường. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho thu hút đầu tư tác động vào Việt Nam đến năm 2030.