Bài viết Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán từ năm 2026
Duyệt Bài viết Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán từ năm 2026 theo Topic "Ngành Kinh tế"
- Ấn phẩmChính sách hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam(Học viện Tài chính, 2026) Lê Thị Thu Hương ThS.Bài viết phân tích chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - giai đoạn lịch sử mà Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Trên cơ sở làm rõ tư duy lý luận và những thành tựu hội nhập quốc tế qua các giai đoạn phát triển, bài viết tập trung luận giải những yêu cầu mới, định hướng chiến lược và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
- Ấn phẩmDự báo tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thông qua mô hình ARIMA(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Thị Dự TS.; Đặng Thị Hồng Hà TS.Tỷ lệ thất nghiệp, một thang đo kinh tế vĩ mô cốt lõi, không chỉ phản ánh tình trạng sức khỏe của thị trường lao động mà còn là một chỉ báo quan trọng về sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp có tác động lan tỏa đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội, từ thu nhập và an sinh của người dân đến sự bền vững của tăng trưởng kinh tế. Một tỷ lệ thất nghiệp cao có thể làm suy giảm sức mua, giảm tổng cầu, trì hoãn đầu tư, đồng thời gia tăng gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội, tạo ra những bất ổn định tiềm năng cho sự phát triển chung của đất nước. Ngược lại, một tỷ lệ thất nghiệp thấp thường là dấu hiệu của một nền kinh tế năng động, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện đời sống của người dân Từ đó, việc dự báo tỷ lệ thất nghiệp là yêu cầu cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay- khi có nhiều ngành nghề, lĩnh vực bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Robot và Al. Do đó, mục tiêu nghiên cứu này đưa ra dự báo có giá trị về tỷ lệ thất nghiệp trong tương lai dựa trên phân tích mô hình ARIMA trong giai đoạn từ quý I/2011 đến quý IV/2024. Bài viết thực hiện phân tích 6 mô hình ARIMA(1,0,1); ARIMA (19,0,1); ARIMA(23,0,1); ARIMA(24,0,1); ARIMA(25,0,1) và ARIMA (26,0,1) để dự báo tỷ lệ thất nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình ARIMA(1,0,1) là mô hình có hiệu suất tốt nhất để dự báo tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam.
- Ấn phẩmGiải pháp nâng cao vai trò của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới(Học viện Tài chính, 2026) Trịnh Việt Tiến TS.Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi quốc gia kinh tế nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt nền kinh tế. Bài viết khái quát vai trò của kinh tế nhà nước thông qua thực trạng phát triển của khu vực nhà nước, từ đó đề xuất một số giải pháp để kinh tế nhà nước phát huy vai trò cụ thể trong các chính sách, chiến lược, kế hoạch, hành vi kinh tế, từ đó đóng góp phát triển kinh tế.
- Ấn phẩmHIỆU QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ SỐ(Học viện Tài chính, 2026) Trần Quốc Đạt ThS.; Trần Lục Thành TS.; Lê Ngọc Bích ThS.Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả công việc (HQCV) bằng phương pháp định lượng theo mô hình SEM. Dữ liệu nghiên cứu là mẫu 500 nhân viên đang làm việc tại các công ty đa quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh (TP. HCM). Nghiên cứu cho thấy môi trường có ảnh hưởng đến HQCV và giúp các nhà quản lý doanh nghiệp gia tăng HQCV của nhân viên đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số.
- Ấn phẩmKế toán tài sản vô hình trong nền kinh tế tri thức: Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống báo cáo tài chính hiện hành(Học viện Tài chính, 2026) Dương Thị Luyến TS.Trong nền kinh tế tri thức, tài sản vô hình ngày càng giữ vai trò quyết định giá trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng hệ thống báo cáo tài chính hiện hành vẫn chủ yếu tập trung vào tài sản hữu hình. Điều này khiến nhiều tài sản vô hình tự tạo như phần mềm, dữ liệu, thương hiệu hay quan hệ khách hàng chưa được phản ánh đầy đủ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính nhằm phân tích hạn chế trong việc ghi nhận, đo lường và công bố thông tin về tài sản vô hình, đồng thời đánh giá tác động đến tính hữu ích của thông tin kế toán. Kết quả cho thấy hệ thống hiện hành chưa theo kịp thực tiễn, từ đó đề xuất hoàn thiện khuôn khổ kế toán để nâng cao khả năng phản ánh tài sản vô hình.
- Ấn phẩmPhát triển nông nghiệp bền vững thông qua kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam(Học viện Tài chính, 2026) Nguyễn Thị Hải Yến TS.Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, phân tích tiềm năng phát triển kinh tế tuần hoàn và đề xuất các giải pháp hướng tới nông nghiệp bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nông nghiệp Việt Nam hiện vẫn dựa nhiều vào phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và khai thác tài nguyên quá mức, cùng với việc xử lý chất thải chưa hiệu quả, dẫn đến ô nhiễm đất, nước, phát thải khí nhà kính và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Việc triển khai kinh tế tuần hoàn còn hạn chế nhận thức chưa đầy đủ, chính sách chưa đồng bộ, tổ chức sản xuất yếu, liên kết chuỗi giá trị hạn chế và năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ thấp. Trên cơ sở sở hữu đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp trọng tâm bao gồm nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung pháp lý và tiêu chuẩn, đẩy liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ tiên tiến và phát triển thị trường cho sản phẩm tuần hoàn.
- Ấn phẩmTẩy xanh trong báo cáo bền vững: Các chiến lược và phương pháp nhận diện - Một nghiên cứu tổng quan hệ thống(Học viện Tài chính, 2026) Trần Thị Nhung TS.Trong bối cảnh công bố thông tin Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) trở thành chuẩn mực quan trọng của thị trường vốn, áp lực xây dựng hình ảnh "xanh" khiến tẩy xanh (greenwashing) trở thành vấn đề đáng lo ngại trong báo cáo bền vững. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan hệ thống tài liệu nhằm hệ thống hóa các chiến lược tẩy xanh và phương pháp nhận diện trong báo cáo bền vững, với trọng tâm là các tiếp cận dựa trên phân tích nội dung và công nghệ NLP/AI. Dựa trên các lý thuyết về tính hợp pháp, đại diện, tín hiệu và quản trị ấn tượng, bài viết đề xuất một khung phân tích ba lớp gồm: động lực của tẩy xanh; các dạng biểu hiện chiến lược; và các công cụ nhận diện tương ứng. Kết quả cho thấy các dạng nổi bật gồm khoảng cách lời nói - hành động, công bố có chọn lọc, công bố mang tính biểu tượng, thao túng diễn ngôn, cùng greenhwashing và machine washing. Về đo lường, nghiên cứu nêu ba hướng tiếp cận chính: đối chiếu công bố với hiệu suất thực tế, phân biệt công bố biểu tượng và công bố thực chất, và nhận diện công bố có chọn lọc cũng như thao túng diễn ngôn, đồng thời gợi mở hàm ý cho việc chuẩn hóa công bố ESG và tăng cường giám sát tại thị trường mới nổi như Việt Nam.